Giới Thiệu Đền Bạch Mã

Kinh thành Thăng Long xưa có bốn trấn (tứ trấn) tại bốn hướng Nam, Bắc, Đông, Tây. Trấn phía Nam là đền Kim Liên, trấn phía Bắc là đền Quán Thánh, trấn phía Tây là đền Voi Phục và trấn phía Đông là đền Bạch Mã. Đền Bạch Mã tọa lạc tại 76 phố Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Địa chỉ đền Bạch Mã từ lâu đã gắn với sự ngưỡng vọng của nhân dân về một ngôi đền linh thiêng đầy tôn quý. Bởi không chỉ là một trong tứ trấn, đền Bạch Mã còn sở hữu những giá trị lịch sử và giá trị văn hóa tâm linh vô cùng rực rỡ của nước Việt.

Sự tích ngôi đền linh thiêng

Sự tích đền Bạch Mã là một trong những câu chuyện huyền bí được lưu truyền nhiều nhất trong nhân gian. Tương truyền sau khi rời đô ra kinh thành Thăng Long, Lý Công Uẩn đã lệnh cho xây thành đắp lũy với mong muốn tạo một rào cản kiên cố ngăn bước quân thù, bảo vệ cuộc sống yên ấm của nhân dân. Nhưng kỳ lạ thay, thành xây đến đâu sụp đổ đến đó.

Tình hình không khả quan khiến vua Lý Công Uẩn đã phải đến đền để viện sự trợ giúp của vị thần xứ Đại La – thần Long Đỗ. Đêm đó, thần Long Đỗ đã hiện về báo cho vua: cứ xây theo dấu chân ngựa, ắt sẽ thành công. Thần vừa dứt lời thì có con ngựa trắng từ đền hiện ra, bước đi từ hướng Tây, vòng lại hướng Đông, rồi lại biến mất vào trong đền.

Vua thấy điều kì diệu thì làm theo, quả nhiên xây thành suôn sẻ. Cảm tạ công lao của thần, vua đã sắc phong ngài hiệu Quốc đô Định bang Thành hoàng Đại vương. Vua cũng cho tạc một bức tượng ngựa trắng để thờ ở trong đền, nhắc nhở hậu thế mãi ghi nhớ dấu ngựa xây thành Thăng Long. Kể từ đó, đền thờ thần Long Đỗ cũng được người đời gọi là đền Bạch Mã (đền ngựa trắng).

Tượng ngựa trắng được thờ trong đền Bạch Mã
Tượng ngựa trắng được thờ trong đền Bạch Mã

Lịch sử của ngôi đền

Câu chuyện về dấu chân ngựa xây thành tuy huyền bí nhưng cũng cho ta thấy được một sự thật lịch sử: trước thời vua Lý Công Uẩn, đền thờ thần Long Đỗ đã tồn tại trên đất Thăng Long. Vậy lịch sử đền Bạch Mã bắt nguồn từ đâu?

Lý Tế Xuyên đã ghi chép sự ra đời của đền Bạch Mã trong “Viện điện u linh tập” với câu chuyện gắn với một quan thần Bắc triều tên Cao Biền. Cao Biền được cử sang nước ta để tiếp tục ách đô hộ, nhưng do chính quốc đang đến hồi suy vong, chúng phải dùng chiêu thổi phồng tài cán của tên quan này.

Năm 866, trong một lần ra cửa Đông dạo chơi, Cao Biền đã gặp phải vị thần cao lớn cưỡi rồng giữa mây mù cuồn cuộn. Cao Biền vừa xây xong thành Đại La, lại gặp phải chuyện kỳ lạ như vậy thì hết hồn hết vía, thâm tâm nghĩ kế làm bùa yểm thần. Biết chuyện, thần hiện về trong mộng Cao Biền, phán: ta là thần Long Đỗ, chỉ định xem xét thành trì vừa xây, việc gì nhà ngươi phải trấn yểm bùa? Nhưng Cao Biền không nghe mà vẫn làm theo ý định, khiến trời đất nổi cơn cuồng phong đánh tan bùa yểm. Cao Biền hoảng sợ tột cùng, vội sai quân lập đền thờ thần Long Đỗ để tạ tội

Đền Bạch Mã xưa
Đền Bạch Mã xưa

Như vậy đền thờ thần Long Đỗ thực sự được xây dựng vào khoảng năm 866, trước cả khi Thăng Long trở thành kinh đô phồn hoa nước Việt.

Hiện ở đền Bạch Mã vẫn còn văn bia ghi tạc lại những lần tu bổ quan trọng. Đó là vào niên hiệu Chính Hòa thời Lê Hy Tông (1680 – 1705) và gần một trăm năm sau vào thời vua Minh Mạng (1839).

Kiến trúc tổng thể

Mặc dù trải qua các lần tu bổ lớn và hứng chịu nhiều cố thăng trầm của thời cuộc, kiến trúc đền Bạch Mã vẫn mang đậm dấu ấn của thời nhà Nguyễn.

Đền Bạch Mã gồm các hạng mục quan trọng là: tam quan, phương đình, đại bái, nhà thiêu hương, cung cấm và nhà hội đồng. Kiến trúc đặc sắc nhất của đền nằm ở toàn bộ khung nhà và cột nhà lớn hoàn toàn bằng gỗ lim – một sản vật quý giá, đẹp một cách rất Việt. Trên hệ thống xà, cột gỗ còn được chạm khắc những hình ảnh chắc, khỏe tạo thành những mảng trang trí độc đáo thu hút khách du lịch đền Bạch Mã trong và ngoài nước.

Họa tiết chạm khắc trên cột gỗ lim đền Bạch Mã

Tam quan gồm năm gian, nối với phương đình bằng gian nằm chính giữa. Phương đình hai tầng, mái được chạm theo lối đao cong và củng ba phương. Các mái cong không chỉ là nét kiến trúc đặc sắc của đền mà còn là nơi treo những đèn lồng, dây hoa rất bắt mắt mỗi dịp lễ tết, xuân về. Tiếp nối với phương đình là đại bái được gắn với nhau qua một mái vòm hình cua.

Đại bái có nền được lát hoàn toàn bằng đá xanh. Nhà thiêu hương và cung cấm có kiến trúc gần giống nhau với mái tương tự phương đình. Tượng thần Bạch Mã được đặt trong cung cấm. Đây là một trong những hiện vật giá trị và linh thiêng nhất của đền. Bởi vậy mà du khách đi lễ đền Bạch Mã đều không bao giờ quên hương khói cầu khấn bức tượng này.

Với kiến trúc độc đáo, đền Bạch Mã trở thành một địa điểm du lịch nổi bật của thủ đô. Không chỉ là nơi chiêm bái những giá trị lịch sử từ tiền nhân, đền Bạch Mã còn là nơi mà khách thập phương đắm mình vào văn hóa tâm linh Việt Nam.